10/11/2018, 00:13

NoSQL nghĩa là gì? Tại sao lại là NoSQL?

NoSQL là một khái niệm chỉ về một lớp các hệ cơ sở dữ liệu không sử dụng mô hình quan hệ (RDBMS). RDBMS vốn tồn tại khá nhiều nhược điểm như có hiệu năng không tốt nếu kết nối dữ liệu nhiều bảng lại hay khi dữ liệu trong một bảng là rất lớn. NoSQL thường được hiểu là Not Only SQL một dạng cơ sở dữ liệu cung cấp cơ chế lưu trữ và truy xuất dữ liệu theo mô hình khác với các cơ sở dữ liệu quan hệ.

Khi làm việc với database, chúng ta đã quá quen với SQLServer, MySQL, PostgreSQL, Oracle ... Điểm chung của những database này là sử dụng ngôn ngữ SQL để truy vấn dữ liệu. Nhưng có 1 dạng database khác với những đặc tính khác biệt được gọi chung dưới cái tên là NoSQL. Giờ chúng ta hãy cùng tìm hiểu xem nó là cái gì, và tại sao nó lại rất phát triển và được nhiều người quan tâm đến vậy.

1. NoSQL database là gì ?

Thuật ngữ NoSQL được giới thiệu lần đầu vào năm 1998 sử dụng làm tên gọi chung cho các lightweight open source relational database (cơ sở dữ liệu quan hệ nguồn mở nhỏ) nhưng không sử dụng SQL cho truy vấn. Vào năm 2009, Eric Evans, nhân viên của Rackspace giới thiệu lại thuật ngữ NoSQL trong một hội thảo về cơ sở dữ liệu nguồn mở phân tán. Thuật ngữ NoSQL đánh dấu bước phát triển của thế hệ database mới: distributed (phân tán) + non-relational (không ràng buộc). Đây là 2 đặc tính quan trọng nhất.

 

2.Tại sao lại cần phải có NoSQL.

Sở dĩ người ta phát triển NoSQL suất phát từ yêu cầu cần những database có khả năng lưu trữ dữ liệu với lượng cực lớn, truy vấn dữ liệu với tốc độ cao mà không đòi hỏi quá nhiều về năng lực phần cứng cũng như tài nguyên hệ thống và tăng khả năng chịu lỗi.

Đây là những vấn đề mà các relational database không thể giải quyết được.

Lượng dữ liệu mà các hệ thống cần phải xử lý giờ đây ngày 1 lớn. Ví dụ như Google, Facebook phải lưu trữ và xử lý một lượng dữ liệu cực lớn mỗi ngày .

 

 

 

 

3. Một số đặc điểm chung.

  • High Scalability: Gần như không có một giới hạn cho dữ liệu và người dùng trên hệ thống.
  • High Availability: Do chấp nhận sự trùng lặp trong lưu trữ nên nếu một node (commodity machine) nào đó bị chết cũng không ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống.
  • Atomicity: Độc lập data state trong các operation.
  • Consistency: chấp nhận tính nhất quán yếu, có thể không thấy ngay được sự thay đổi mặc dù đã cập nhật dữ liệu.
  • Durability: dữ liệu có thể tồn tại trong bộ nhớ máy tính nhưng đồng thời cũng được lưu trữ lại đĩa cứng.
  • Deployment Flexibility: việc bổ sung thêm/loại bỏ các node, hệ thống sẽ tự động nhận biết để lưu trữ mà không cần phải can thiệp bằng tay. Hệ thống cũng không đòi hỏi cấu hình phần cứng
    mạnh, đồng nhất.
  • Modeling flexibility: Key-Value pairs, Hierarchical data (dữ liệu cấu trúc), Graphs.
  • Query Flexibility: Multi-Gets, Range queries (load một tập giá trị dựa vào một dãy các khóa).

 

4. Phân loại NoSQL database.


Có bốn loại chung (loại phổ biến nhất) của cơ sở dữ liệu NoSQL. Mỗi loại đều có các thuộc tính và giới hạn riêng. Không có một giải pháp duy nhất nào tốt hơn tất cả các giải pháp khác, tuy nhiên có một số cơ sở dữ liệu tốt hơn để giải quyết các vấn đề cụ thể. Để làm rõ cơ sở dữ liệu NoSQL, hãy thảo luận các loại phổ biến nhất:

a. Key-value stores.
Lưu trữ kiểu key-value là kiểu lưu trữ dữ liệu NoSQL đơn giản nhất sử dụng từ một API. Chúng ta có thể nhận được giá trị cho khóa, đặt một giá trị cho một khóa, hoặc xóa một khóa từ dữ liệu. Ví dụ, giá trị là ‘blob’ được lưu trữ thì chúng ta không cần quan tâm hoặc biết những gì ở bên trong. Từ các cặp giá trị được lưu trữ luôn luôn sử dụng truy cập thông qua khóa chính và thường có hiệu năng truy cập tốt và có thể dễ dàng thu nhỏ lại.
Một vài cơ sở dữ liệu key-value phổ biến là Riak, Redis(thường dùng phía server), memcached, Berkeley DB, HamsterDB, Amazon DynamoDB(mã nguồn đóng), Project Voldemort và Couchbase.
Tất cả các cơ sở dữ liệu kiểu key-value đều không giống nhau, có rất nhiều điểm khác nhau giữa các sản phẩm. Ví dụ, dữ liệu của memcached không được nhất quán trong khi ngược lại với Riak. Đấy là những điểm nổi bật quan trọng khi chọn giải pháp phù hợp để sử dụng. Cụ thể hơn là khi chúng ta cần cài đặt caching cho nội dung yêu thích của người dùng, cài đặt sử dụng memcached có nghĩa là khi các nút hỏng hết dẫn tới dữ liệu bị mất và cần phải làm mới lại từ hệ thống nguồn. Tuy nhiên, nếu chúng ta lưu trữ cùng dữ liệu đó trong Riak, chúng ta không cần lo lắng về việc mất dữ liệu nhưng cần phải xem xét việc cập nhật trạng thái của dữ liệu như thế nào. Điều này là quan trọng không chỉ cho chọn cơ sở dữ liệu key-value cho hệ thống và còn quan trọng cho việc chọn cơ sở dữ liệu key-value nào.

b. Column-oriented databases (column-family).
Cơ sở dữ liệu column-family lưu trữ dữ liệu trong nhiều cột trong mỗi dòng với key cho từng dòng. Column families là một nhóm các dữ liệu liên quan được truy cập cùng với nhau. Ví dụ, với khách hàng, chúng ta thường xuyên sử dụng thông tin cá nhân trong cùng một lúc chứ không phải hóa đơn của họ.
Cassandra là một trong số cơ sở dữ liệu column-family phổ biến. Ngoài ra còn có một số cơ sở dữ liệu khác như HBase, Hypertable và Amazon DynamoDB. Cassandra có thể được miêu tả nhanh và khả năng mở rộng dễ dàng với các thao tác viết thông qua các cụm. Các cụm không có node master, vì thế bất kỳ việc đọc và ghi nào đểu có thể được xử lý bởi bất kỳ node nào trong cụm.

c. Graph databases
Kiểu đồ thị này cho phép bạn lưu trữ các thực thể và quan hệ giữa các thực thể. Các đối tượng này còn được gọi là các nút, trong đó có các thuộc tính. Mỗi nút là một thể hiện của một đối tượng trong ứng dụng. Quan hệ được gọi là các cạnh, có thể có các thuộc tính. Cạnh có ý nghĩa định hướng; các nút được tổ chức bởi các mối quan hệ. Các tổ chức của đồ thị cho phép các dữ liệu được lưu trữ một lần và được giải thích theo nhiều cách khác nhau dựa trên các mối quan hệ.
Thông thường, khi chúng ta lưu trữ một cấu trúc đồ thị giống như trong RDBMS, nó là một loại duy nhất của mối quan hệ. Việc tăng thêm một mối quan hệ có nghĩa là rất nhiều thay đổi sơ đồ và di chuyển dữ liệu, mà không phải là trường hợp khó khi chúng ta đang sử dụng cơ sở dữ liệu đồ thị. Trong cơ sở dữ liệu đồ thị, băng qua các thành phần tham gia hoặc các mối quan hệ là rất nhanh. Các mối quan hệ giữa các node không được tính vào thời gian truy vấn nhưng thực sự tồn tại như là một mối quan hệ. Đi qua các mối quan hệ là nhanh hơn so với tính toán cho mỗi truy vấn.
Có rất nhiều cơ sở dữ liệu đồ thị có sẵn, chẳng hạn như Neo4J, Infinite Graph, OrientDB, hoặc FlockDB (đó là một trường hợp đặc biệt: một cơ sở dữ liệu đồ thị mà chỉ hỗ trợ các mối quan hệ duy nhất chuyên sâu hoặc danh sách kề, nơi mà bạn không thể đi qua nhiều hơn một mức độ sâu sắc đối với các mối quan hệ ).

d. Document Oriented databases
Tài liệu là nguyên lý chính của cơ sở dữ liệu kiểu dữ liệu. Dữ liệu lưu trữ và lấy ra là các tài liệu với định dạng XML, JSON, BSON,… Tài liệu miêu tả chính nó, kế thừa từ cấu trúc dữ liệu cây. Có thể nói cơ sở dữ liệu tài liệu là 1 phần của key-value. Cơ sở dữ liệu kiểu tài liệu như MongoDB cung cấp ngôn ngữ truy vấn đa dạng và cúc trúc như là cơ sở dữ liệu như đánh index,…
Một số cơ sở dữ liệu tài liệu phổ biến mà chúng ta hay gặp là MongoDB, CouchDB, Terastore, OrientDB, RavenDB.

 

5. So sánh giữa RDBMS (Relational database management system) và NoSQL.

RDBMS

  • Dữ liệu có cấu trúc và tổ chức
  • Sử dụng ngôn ngữ SQL để truy vấn dữ liệu
  • Dữ liệu và các mối quan hệ của nó được lưu trữ trong các bảng riêng biệt.
  • Có tính chặt chẽ

NoSQL

  • Không sử dụng SQL
  • Không khai báo ngôn ngữ truy vấn dữ liệu
  • Không định nghĩa schema
  • Có 1 số nhóm dạng: Key-Value pair storage, Column Store, Document Store, Graph databases
  • Dữ liệu phi cấu trúc và không thể đoán trước
  • Ưu tiên cho hiệu năng cao, tính sẵn sàng cao và khả năng mở rộng

 

6. Thống kê tỉ lệ sử dụng của NoSQL.

 

 

Khoảng 2 thập kỷ nay, mô hình cơ sở dữ liệu quan hệ RDBMS từng là trò chơi duy nhất trong thành phố cho việc quản trị cơ sở dữ liệu. Vài năm qua, một trò chơi khác đã nổi lên: NoSQL, một mô hình cơ sở dữ liệu phân tán không quan hệ đã và đang thu hút được nhiều sự chú ý trong những năm gần đây, ban đầu nhờ vào những triển khai sản phẩm có tên tuổi lớn. 

Dynamo của Amazon và BigTable của Google là trong số những triển khai nổi tiếng nhất. 

Trong khi NoSQL đưa ra một số lợi ích, thì nó cũng không tránh khỏi có những nhược điểm.

 


 

7. lợi ích của NoSQL: 


- Nó là nguồn mở:

Các sản phẩm nguồn mở đưa ra cho những người phát triển với một vài lợi ích lớn lao, trong đó có tình trạng không có chi phí của chúng. Những lợi ích khác: phần mềm nguồn mở có xu hướng sẽ là tin cậy hơn, an ninh hơn và nhanh hơn để triển khai so với các lựa chọn thay thế sở hữu độc quyền.

Các hệ quản trị cơ sở dữ liệu (CSDL) NoSQL là Cassandra, CouchDB, Hbase, MongoDB và Redis.

- Việc mở rộng phạm vi là mềm dẻo

NoSQL thay thế câu thần chú cũ của các nhà quản trị CSDL về 'mở rộng phạm vi' với một thứ mới: 'mở rộng ra ngoài'. Thay vì bổ sung thêm các máy chủ lớn hơn để điều khiển nhiều tải dữ liệu hơn, thì CSDL NoSQL cho phép một công ty phân tán tải qua nhiều máy chủ khi mà tải gia tăng. 

- Các CSDL NoSQL khác nhau cho những dự án khác nhau

MongoDB và Redis là những lựa chọn tốt cho việc lưu trữ các dữ liệu thống kê ít được đọc mà lại được viết thường xuyên, như một số đếm truy cập web chẳng hạn.

Hadoop, một CSDL dạng tự do, phân tán làm tốt công việc lưu trữ các dữ liệu lớn như các con số thống kê thời tiết hoặc công việc phân tích nghiệp vụ.

Memcache, một CSDL nhất thời chóng tàn, tuyệt vời trong lưu trữ các phiên làm việc web, các khóa, và các con số thống kê ngắn hạn.

Cassandra và Riak (các lưu trữ dư thừa, tự động tạo bó cluster) làm tốt trong các môi trường với các ứng dụng có tính sẵn sàng cao, khi thời gian sống tối đa là sống còn. 

- NoSQL được các hãng lớn sử dụng

Các công ty như Amazon, BBC, Facebook và Google dựa vào các CSDL NoSQL. 

- NoSQL phù hợp với công nghệ đám mây

NoSQL và đám mây là một sự trùng khớp tự nhiên. Các máy chủ ngày nay là không đắt và có thể dễ dàng mở rộng phạm vi được theo yêu cầu có sử dụng một dịch vụ như là Amazon EC2. Giống như tất cả công nghệ đám mây, EC2 dựa vào ảo hóa. Liên kết yếu của ảo hóa là sự thực thi của I/O, với bộ nhớ và CPU các các kết nối mạnh.

Các CSDL NoSQL hầu hết sử dụng bộ nhớ qua đĩa như là vị trí ghi đầu tiên - vì thế ngăn ngừa được sự thực thi không ổn định của I/O. Và vì NoSQL lưu trữ dữ liệu thường thúc đẩy được tính mở rộng phạm vi theo chiều ngang thông qua việc ngăn chia, chúng có khả năng tận dụng được việc cung cấp mềm dẻo của đám mây. 


8. Nhược điểm của NoSQL: 




Nguồn mở có thể có nghĩa là sự hỗ trợ không đồng đều cho các doanh nghiệp

Trong khi các nhà cung cấp chủ chốt của RMBMS như Oracle, IBM hay Sybase đưa ra sự hỗ trợ tốt nhổi tiếng cho các khách hàng doanh nghiệp cỡ vừa, thì các doanh nghiệp nhỏ hơn, thường là các nhà cung cấp nguồn mở mới thành lập không thể được mong đợi cung cấp được sự hỗ trợ có thể so sánh được - ngoại trừ một nhúm các khách hàng blue chip.

Nhà cung cấp nguồn mở trung bình thiếu sự tiếp cận toàn cầu, các dịch vụ hỗ trợ và sự tin cậy của một Oracle hay IBM.

- Chưa đủ chín cho các doanh nghiệp

Dù những triển khai của chúng tại một số công ty lớn, thì các CSDL NoSQL vẫn đối mặt với một vấn đề về sự tin cậy chính với nhiều doanh nghiệp. Điểm sống còn đối với sự thiếu của NoSQL về độ chín muồi và các vấn đề về tính không ổn định có thể, trong khi trích ra tính chín muồi, giàu chức năng và ổn định của các RDBMS được thiết lập đã từ lâu.

- Những hạn chế về tri thức nghiệp vụ

Có một vài câu hỏi xung quanh những khả năng về tri thức nghiệp vụ (BI) của các CSDL NoSQL. Liệu các CSDL này có thể cung cấp dạng phân tích dữ liệu lớn và mạnh mà các doanh nghiệp đã quen với các RDBMS? Cần bao nhiêu sự tinh thông về lập trình cần có để tiến hành những truy vấn và phân tích hiện đại?

Các câu trả lời là không tích cực. Các CSDL NoSQL không có nhiều sự đeo bám tới các công cụ BI thường được sử dụng, trong khi những yêu cầu và phân tích hiện đại đơn giản nhất có liên quan khác nhiều tới sự tinh thông về lập trình. Tuy vậy, các giải pháp là sẵn sàng. Quest Software, ví dụ, đã tạo ra Toad cho các CSDL đám mây, mà nó phân phối các khả năng truy vấn hiện đại tới một số CSDL NoSQL.

- Thiếu sự tinh thông

Tính rất mới mẻ của NoSQL có nghĩa là không có nhiều lập trình viên và người quản trị mà biết công nghệ này - là cho khó khăn cho các công ty tìm người với sự tinh thông phù hợp. Đối lại, thế giới của RDBMS có hàng ngàn những người đủ tư cách.

- Những vấn đề về tính tương thích

Không giống như các CSDL quan hệ, các CSDL NoSQL chia sẻ ít theo cách thức của các tiêu chuẩn. Mỗi CSDL NoSQL có các giao diện lập trình ứng dụng API riêng của mình, các giao diện truy vấn độc nhất vô nhị, và những sự riêng biệt. Sự thiếu hụt các tiêu chuẩn có nghĩa là nó không có khả năng để chuyển một cách đơn giản từ một nhà cung cấp này sang một nhà cung cấp khác, nếu bạn trở nên không hạnh phúc với dịch vụ.

 

Tham khảo
- http://en.wikipedia.org/wiki/NoSQL
- http://nosql-database.org/
Bài liên quan

NoSQL nghĩa là gì? Tại sao lại là NoSQL?

NoSQL là một khái niệm chỉ về một lớp các hệ cơ sở dữ liệu không sử dụng mô hình quan hệ (RDBMS). RDBMS vốn tồn tại khá nhiều nhược điểm như có hiệu năng không tốt nếu kết nối dữ liệu nhiều bảng lại hay khi dữ liệu trong một bảng là rất lớn. NoSQL thường được hiểu là Not Only SQL một dạng cơ sở dữ ...

Son Dong viết 1 tuần trước

Tại sao lại cần HTTPS? Những điều engineer cần biết về lịch sử và kỹ thuật phía sau của TLS. (phần 3)

Tiếp theo phần 2 tôi sẽ hoàn thành nội dung phần cuối về HTTPS trong bài viết này. Sau này sẽ thế nào? Tiến tới TLS1.3 hay QUIC IETF đang tiến hành phát triển kỹ thuật sau khi mà đã thực hiện HTTPS hoá toàn bộ. Tôi sẽ trình bày khái lược TLS1.3 và QUIC của phương thức mới đang được châm cứu ...

Trần Trung Dũng viết 09:55 ngày 07/09/2018

[Góc hoài niệm] Lập trình Pascal – môn học ám ảnh nhất thời học sinh: Thi qua nhìn lại vẫn không hiểu tại sao lại đỗ!

Để học tốt Pascal, bạn phải học cách tư duy logic, tìm thuật toán và viết những dòng lệnh máy tính chính xác đến từng dấu chấm, dấu phẩy…. Thực sự nghĩ thôi đã thấy đau đầu! Theo wikipedia, Pascal (ngôn ngữ lập trình) có nguồn gốc từ ngôn ngữ ALGOL 60 cho phép bạn xác ...

Hoàng Hải Đăng viết 22:44 ngày 27/08/2018

Tại sao lại cần HTTPS? Những điều engineer cần biết về lịch sử và kỹ thuật phía sau của TLS. (phần 2)

Tiếp theo phần 1 ở đây tôi đã nói đến lý sao tại sao lại cần HTTPS hoá tất cả mọi thứ. Trong phần 2 này tôi sẽ viết tiếp những vấn đề dưới đây : HTTP có khuynh hướng biến mất trong tương lai Do sự phát triển của việc HTTPS hoá mọi thứ thì việc truyền tin plain text trên trình duyệt dần dần có ...

Tạ Quốc Bảo viết 18:08 ngày 12/08/2018

Tại sao lại cần HTTPS? Những điều engineer cần biết về lịch sử và kỹ thuật phía sau của TLS. (phần 1)

Tôi nghĩ rằng có nhiều engineer khi mà được hỏi là "để mà có đối sách tốt cho SEO thì cần phải có HTTPS cho website". Quả nhiên là Google sẽ ưu tiên đăng kí cho những trang đã thiết lập HTTPS. Lý do mà cần HTTPS cho website phải chăng là chỉ cho SEO ? Và đó chỉ là sự khuyến khách chỉ của riêng mình ...

Bùi Văn Nam viết 17:37 ngày 12/08/2018
0